Việc kiểm tra không phá hủy (NDT) tập trung vào việc đánh giá xem đối tượng được kiểm tra có đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật đã định hay không mà không làm hỏng đối tượng đó. Nếu sản phẩm không đáp ứng các yêu cầu đã định, nó sẽ được coi là có khiếm khuyết. Các lý thuyết, phương pháp và công cụ của chẩn đoán kỹ thuật chính là những yếu tố then chốt để phát hiện và xác định vị trí các khiếm khuyết này. Thông qua nhiều biện pháp như các phản ứng vật lý, hóa học, v.v., NDT có thể thu thập các thông tin cần thiết.
Khi thực hiện NDT, đặc biệt là các phương pháp như đo vẻ ngoài, mao quản, từ tính, siêu âm, v.v., tình trạng bề mặt của đối tượng được kiểm tra rất quan trọng, đặc biệt là độ nhám bề mặt. Giá trị độ nhám bề mặt trực tiếp ảnh hưởng đến độ tin cậy của kết luận kiểm tra, do đó, cần phải kiểm soát nghiêm ngặt.
Các phương pháp kiểm soát độ nhám bề mặt:
Đo vẻ ngoài:
Yêu cầu: Độ nhám bề mặt cần được xác minh thông qua giấy chứng nhận được chứng nhận hoặc phải tương đương với giá trị độ nhám bề mặt của mẫu.
Công cụ: Kính hiển vi kép, máy đo đường viền, v.v.
Phương pháp mao quản:
Cấp độ nhạy 1 và 2: Độ nhám bề mặt không được vượt quá Ra3.2 (Rz20).
Cấp độ nhạy 3: Trong điều kiện không có nền phát quang hoặc nhuộm màu, cho phép độ nhám Rz không vượt quá hoặc bằng 40 micromet (Ra không vượt quá hoặc bằng 10 micromet).
Cấp độ nhạy 4: Rz không được vượt quá 80 micromet.
Phương pháp kiểm tra bằng bột từ:
Cấp độ nhạy điều kiện: Dựa vào kích thước của khiếm khuyết có thể phát hiện được, đặt ra ba cấp độ nhạy điều kiện: A, B, C.
Điều kiện nhạy A: Ra không vượt quá hoặc bằng 2.5 micromet.
Nhạy B và C: Ra không vượt quá hoặc bằng 10 micromet.
Tác động của độ nhám: Bề mặt thô (Rz>40 micromet) sẽ dẫn đến giảm độ nhạy, cấp độ nhạy điều kiện không được qui định.
Siêu âm:
Phạm vi độ nhám tốt nhất: Rz từ 20 đến 40 micromet.
Tác động của độ nhám: Độ nhám lớn hơn (Rz vượt quá 40 micromet) sẽ dẫn đến giảm độ nhạy và sự không ổn định; độ nhám nhỏ hơn (Rz nhỏ hơn 20 micromet) sẽ làm giảm đặc tính ma sát, dẫn đến chất lỏng tiếp xúc trượt ra khỏi trạm chuyển đổi.
Trong quá trình đo, việc thu được giá trị thông số độ nhám bề mặt trung bình của toàn bộ mẫu là rất quan trọng. Tuy nhiên, yêu cầu về độ nhám bề mặt cần được xác định bằng cách chọn giá trị thông số độ nhám bề mặt từ tiêu chuẩn quốc gia. Do đó, đối với mỗi mẫu, chọn thông số độ nhám bề mặt gần nhất với giá trị đo được từ tiêu chuẩn và đưa vào hộ chiếu mẫu để đảm bảo độ chính xác của việc kiểm tra.